NGƯỜI LÀNG HÀ BẢN LĨNH - VĂN MINH - LỊCH SỰ - ĐEM TÀI NĂNG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
Chào mừng bạn đến với kênh thông tin của người Làng Hà.                     Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng nhấn vào đây.

Thông tin về sắc phong Làng Hà - Quảng Khê - Quảng Xương - Thanh Hóa

23/07/2013 6:18:01 CH

Vì tài liệu người cung cấp không được sắc nét nên chúng tôi chỉnh sửa ảnh chất lượng hơi kém. Để biết thêm chi tiết về ảnh sắc phong của làng Hà quý vị liên hệ với chúng tôi qua số máy 0904 813 896

THẦN PHẢ KÝ

 

Thôn Hà Trâu xã Ngưu Phương,  thôn Hà Nữu xã Thạch Phương

huyện Quảng Xương, tỉnh  Thanh Hóa

 

 

 

Chính bản Ngọc phả Linh thần

Phụ quốc Thiên nam Linh ứng Khả phong Nhất vị Công chúa

Của bộ Lễ triều Lê nước Việt

 

 

Nước Việt ta ở về phương nam, trời mở vận lành, tiếp nối cơ đồ, hơn hai ngàn năm Hùng vương dựng nước là tổ tiên của người Bách Việt. Sau đến các đời con cháu của họ Hùng, ba trăm bốn mươi chín năm, sông núi nước nam phụ thuộc làm nội quận của các nhà Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương. Trải đến bốn nhà Đinh, Lê, Lý, Trần nước Nam ta đều có các bậc vua hiền tiếp nối trị vì, truyền đến đời vua Thánh Tông nhà Lý, là bậc vua sáng, có đức lớn như trời, trí tuệ như thần, anh hùng cái thế, là bậc minh quân thịnh trị. Rồi tiếp sau, trải các đời vua khai sáng, đến khi nhà Lê phục hưng, truy tưởng các bậc công thần, nêu gương ở nơi trang ấp, phàm những nơi có đền thờ miếu mạo, có công trong việc nước, đều cho biên chép tâu lên để sách phong.

Lại nói, truyền rằng ở làng Hà Trâu, huyện Quảng Xương phủ Tĩnh Gia trấn Thanh Hoa, khi đất đai mới mở, dân cư mới lập vốn chưa có đền miếu để phụng thờ. Sau đó mới có một ngôi đền thờ, từ xưa truyền rằng thần vốn chính người trong ấp, cha là người họ Lê,  tên Chiêu, mẹ là người họ Nguyễn. hai vợ chồng đều là người lương thiện, duy tuổi đã ngoại tứ tuần mà chưa có con trai nối dõi, chỉ sinh được hai người con gái. (Người con gái thứ hai tên là Khánh, chẳng may mất sớm nên không được ghi lại vào ngọc phả). Người con gái lớn tên gọi là nàng Châu Ngoạn, sinh ngày 16 tháng 3 năm Quý (Qúi Dậu  853)…Đến lúc trưởng thành, năm 12 tuổi, thì diện mạo tốt tươi, dung nhan đẹp đẽ, mắt phượng mày ngài khác hẳn người thường. Đến năm 15 tuổi, thì chẳng may cha mẹ đều cùng già ốm mà qua đời, nàng tự lo lắng chu toàn tang sự cho cha mẹ, từ đó sống một mình, mọi người trong làng xóm đều coi như bạn bè, chẳng ai là không yêu quí. Đến năm 19 tuối, khắp cả một vùng, con cháu các nhà danh gia vọng tộc đều mong muốn được cưới làm vợ, nhưng nàng đều không chịu, tháng ngày buôn bán sinh nhai, hoặc vào núi hái củi, hoặc cắt cỏ ngoài đồng, chỉ giữ mình tiết hạnh. Năm nàng 21 tuổi, khi ấy là vào những năm niên hiệu Hi Ninh ở bắc triều, phương bắc lệnh cho tướng là Cao vương (Biền) sang trấn thủ nước ta (khoảng từ năm 865 đến năm 875). Cao vương giỏi giang hơn người, văn tài võ nghệ, thiên văn địa lý không có gì là không biết. Đến khi phụng mệnh tuần thú phương nam, đi qua địa hạt trấn Thanh Hoa, đến làng, thấy khu vực này có núi có sông, thế đất đủ long lai hổ ứng, hai bên trái phải cũng chầu phục vào, có một cuộc đất gọi là thế đất “đầu rồng”, tất là đất phát sinh bậc tiên phi, công chúa, vương bèn tìm cách yểm đi. Một hôm, vương đang ngồi chơi trên cuộc đất “đầu rồng”, bỗng thấy nàng Châu Ngoạn đương tắm gội ở đó, nhìn thấy dung nhan, vương biết người này dung mạo phi thường, nên yêu thích lắm, liền vào trong thôn ấp, hỏi thăm các bậc phụ lão, muốn được xin lấy làm vợ. Nhưng nàng trong lòng tâm niệm, quyết không chịu lấy, từ đó về sau, tính bẩm khác lạ, ngày đêm thường có thể ung dung ra vào nơi đất ấy, hái hoa ăn quả, nhân dân trong khu, đều lấy làm kỳ lạ. Qua độ một năm, khi ấy nàng 22 tuổi (Năm Giáp Ngọ 874), giữa trưa ngày 21 tháng 7, bỗng nhiên tự bệnh mà mất. Mọi người trong họ ngoài làng bèn chôn cất ở chỗ đất đó. Ba ngày sau, tự nhiên thấy ngôi mộ đất thiêng, cứ lớn dần thành một ngôi mộ lớn. Nhân dân trong khu, phàm có việc gì, thành tâm đến cầu khẩn, lập tức được linh ứng, như có dấu hiệu được cõi âm phù trợ vậy. Mọi người cho đó là điều linh dị, lập lên một ngôi miếu nhỏ, gọi là Miếu Bà, đem dâng tiền vàng kính cẩn thờ phụng. Tiếng linh thiêng khắp thiên hạ đều nghe biết, những người buôn bán hay quân đội hành binh đều đến cầu khẩn, bà thường hiển linh thành hình người, ca ngâm đàn hát, mà không ai biết.

Đến đời vua Thánh tông triều Lý lên nối ngôi cao, vào năm Ất Dậu niên hiệu Thiên Huống Bảo Tượng, bỗng có giặc Ma Na vào cướp phá, chúng tích lũy binh lương xâm phạm bờ cõi, cướp bóc dân cư, nhà vua cả giận, bèn sai quan Thái úy (Lý Thường Kiệt) đem binh đi đánh, nhưng chinh chiến nhiều lần mà chưa dẹp được, thắng bại chưa phân. Nhà vua bèn đem xa giá tự mình thân chinh cũng với tướng quốc đi tuần các nơi trong thiên hạ, để tìm cách đánh giặc và phủ dụ dân cư. Khi ấy có bà công chúa là con gái vua Thái Tông cũng tòng chinh đi theo (Công chúa tên húy là Mục, sau cuộc chiến cũng được lập miếu thờ. Ngày mồng 10 tháng 2 mùa xuân năm ấy, khi xa giá đức vua đi qua khu vực đất ấy, đi qua trước miếu, công chúa từ cửa xe, chợt nhìn thấy một người con gái hình trạng tựa một tiên nhân đứng trước miếu hồi lâu rồi biến mất. Bèn đến tâu rõ với đức vua, nhà vua cho là sự lạ, cho gọi các bậc phụ lão để hỏi rõ. Phụ lão kể lại rõ ràng mọi chuyện, vua bèn cho đóng quân ngủ lại một đêm. Tối hôm ấy, nhà vua nằm mộng thấy một người con gái đến vái chào trước mặt, xưng rằng, vốn là người tiết nữ nhà họ Lê, vua hỏi những điều nghe được, sực tỉnh dậy biết rằng mình vừa nằm mơ. Vua bèn ngửa mặt nhìn lên không khấn rằng: “Nay trẫm tự thân chinh đem quân bình Chiêm, mà vẫn chưa phân thắng bại, mong được thần nhân hiển linh theo giúp cho được thuận lợi!” Khấn xong, liền hạ lệnh cho quân tiến binh. Từ ấy nghe thấy trước đoàn quân như có tiếng gió rít, quân mã đi một mạch đến thẳng nơi đồn binh của giặc, lại tự nhiên có điềm gió mưa nổi lên, vua cho là có sức mạnh cõi âm giúp đỡ, tiến đánh quân giặc chỉ một trận đã thắng rõ, đến trận thứ hai thì bắt được chúa quân Chiêm, quân giặc thua to, tan vỡ chạy về bản quốc, từ đó thiên hạ thái bình. Vua dẫn quân khải hoàn trở về, thần lại hiển ứng thêm nữa, nhà vua bèn ban thưởng quân công, khen thưởng linh thần, hạ lệnh cho quan triều đình trở về lễ tạ, ở đất hai làng Hà Trâu dựng một ngôi đền để phụng thờ hương hỏa làm phúc thần tối linh đất ấy. Lại ban cho tiền công quỹ mười vạn quan, bạc mười lượng, lụa đỏ ba xấp. Cấp cho sắc chỉ bao phong, mỹ tự là Tối linh Công chúa, phê chuẩn miễn binh lương cho dân sở tại hai năm, liệt thần vào hàng thần linh nước nam, mãi mãi được bốn mùa cúng tế.

Phong cho làm: Đương cảnh Thành hoàng, Uy linh Tiết thục Trinh nghi Ý đức Đương cảnh Thành hoàng. Lại tặng: Quốc phi Hoàng nương Thượng đẳng Tối linh Công chúa. Phê chuẩn cho hai làng Hà Trâu xã Ngưu Phương, xã Thạch Phương, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoa lập ngôi tối linh chính từ (đền chính) để thờ phụng. Từ ấy về sau, trải các đời vua khai sáng trị nước, phàm có việc dùng binh, đến đền cầu đảo đều được linh ứng, lại cùng truy tặng thêm mỹ tự cho thần.

 

 

 

 

Các quy định:

+ Tên húy: Châu Ngoạn tuyệt đối cấm kỵ. Và vào ngày hành lễ, cấm mặc màu trắng vào điện thờ.

+ Ngày sinh đức bà: ngày 16 tháng 3. Tiệc hát ba ngày. (Qúi Dậu  853)

+ Ngày hóa đức bà: ngày 21 tháng 7  (Năm Giáp Ngọ 874)

+ Mộ bà: tại khu vực cuộc đất Đầu Rồng. Mộ cha tại làng trong Hà Trâu xã Ngưu Phương. Mộ mẹ tại làng ngoài Hà Nữu xã Thạch Phương

+ Đền dựng tại bản địa, tọa Cấn, hướng Khôn (lưng quay hướng Cấn (Đông Bắc), mặt quay về hướng Khôn (Tây Nam)), phía trước có thủy tụ, có gò Kim tinh làm án, tả kim, hữu mộc, có mạch nước đi từ hướng Càn (tây bắc) đến, chính là đất anh linh.

 

 

Ngày lành mùa xuân năm Hồng Phúc thứ nhất (1572). Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, bề tôi Nguyễn Bính phụng soạn

 

Năm Vĩnh Hựu thứ ba (1737), Quản giám bách thần, tri điện hùng lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền ……(chỗ này mất chữ)

 

 

 

Phụ chép các Sắc phong qua các đời vua

 

(1)

Sắc cho:

Cao sơn linh ứng Huệ cảm phu hựu Bác tế mặc hựu Tuy hưu Hậu trạch Long ân Hoằng hưu Phù vận Phổ hóa Hiển ứng Phù tộ an dân Nam quốc phúc thần Dụ phúc Tuy khánh Phấn võ Hùng uy, Trọng hi lũy cáp, Mậu đức Phu uy, Tích dẫn Kiến mưu tá tịch Phong công Phù quốc … minh long vận hồng ân uy dũng nghiêm nghị thông minh tế trí, tán trị dực vận phù cương, trang chính thông xát cương nghị, ninh tập thùy hưu, định uy huệ hưu tập phúc bảo dân tổng phúc uy định, dương võ trợ thắng, tuyên chính thần mưu, diệu trù hùng lược, tích dẫn diên tự, khai bình bảo thái, diễn hi miên tự, khoan hậu ôn thứ, thuần túy trinh chính, cao minh quảng bác anh võ định công chính trực tuy hưu tích hạ diệu ứng ôn lương khoan hậu giản dung đại vương.

 

Linh thiêng giúp rập, Anh hùng núi non. Giúp nạn công như trời đất, thần phù trì tươi tốt trăm nơi; Hiển linh giữ vững cơ đồ, phúc gìn giữ lâu dài vạn thuở. Ban phát đã dài, lòng tưởng nhớ muốn tỏ thêm lòng tôn kính. Nay vua nối ngôi tiến phong vương vị vào nơi chính phủ, theo lễ nên tăng thêm phẩm trật, vì vậy nên thêm mỹ tự, chuẩn y gia tăng phong thêm mấy mỹ tự cho bậc linh thần là:

 

Cao sơn linh ứng Huệ cảm phu hựu Bác tế mặc hựu Tuy hưu Hậu trạch Long ân Hoằng hưu Phù vận Phổ hóa Hiển ứng Phù tộ an dân Nam quốc phúc thần Dụ phúc Tuy khánh Phấn đoán Hùng uy Trọng hi lũy cáp Mậu đức Phu uy Tích dẫn Kiến mưu tá tịch Phong công Phù tộ minh long vận hồng ân uy dũng nghiêm nghị thông minh tế trí, tán trị dực vận phù cương, trang chính thông xát cương nghị, tập ninh thùy hưu, định uy huệ hưu tập phúc bảo dân tổng phúc uy định, dương võ trợ thắng, tuyên chính thần mưu, diệu trù hùng lược, tích dẫn diên tự, khai bình bảo thái, diễn hi miên tự, khoan hậu ôn thứ, thuần túy trinh chính, cao minh quảng bác anh võ định công chính trực tuy hưu tích hạ diệu ứng ôn lương khoan hậu giản dung minh hựu huyền thông chương cảm tuyên uy Phấn võ đại vương thánh nữ hoàng hậu.

 

Vậy nên có sắc phong!

 

 

Ngày 26 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783)

 

 

(2)

Sắc cho:

Hiệu linh đôn tĩnh hùng tuấn trác vĩ cao sơn thượng đẳng thần.

Trước nay hộ quốc giúp dân vẫn thường linh ứng, được nhiều ban tặng nhiều sắc phong lưu giữ mà thờ phụng, đến nay truy niệm, gia tặng thêm cho thần là: dực bảo trung hưng thượng đẳng thần.

Vẫn phê chuẩn cho thôn Hà Trâu xã Ngưu Phương và thôn Hà Nữu xã Thạch Phương, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa phụng thờ như cũ, mong thần sau này sẽ bảo vệ cho dân đen của ta! Khâm tai.

 

Ngày mồng 1 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887)

 

(3)

Sắc chỉ cho:

Thôn Hà Trâu xã Ngưu Phương và thôn Hà Nữu xã Thạch Phương, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, trước nay thờ phụng Hiệu linh Đôn tĩnh Hùng tuấn Trác vĩ Cao sơn thượng đẳng thần, đã từng ban cấp sắc phong chuẩn y việc thờ phụng vào năm Tự Đức thứ 31 khi trẫm mừng thọ ngũ tuần đại khánh. Nay lại đặc biệt chuẩn y cho kéo dài thêm nghi lễ thờ cúng để ghi nhớ ngày quốc khánh. Khâm tai!

 

Ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880)

 

(4)

 

Sắc cho:

 

Hiệu linh cao sơn chi thần,

Trước nay hộ quốc giúp dân vẫn thường linh ứng. Năm Minh mệnh thứ 21 nhằm năm đức Thánh tổ Nhân hoàng đế của ta ngũ tuần đại khánh, đã ban cho bảo chiếu tăng thêm phẩm trật,  đến nay truy niệm, gia tặng thêm cho thần là: Hiệu Linh Đôn tĩnh chi thần.

Vẫn phê chuẩn cho thôn Hà Trâu xã Ngưu Phương và thôn Hà Nữu xã Thạch Phương, huyện Quảng Xương, phụng thờ như cũ, mong thần sau này sẽ bảo vệ cho dân đen của ta! Khâm tai.

 

Ngày 13 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846)

 

(5)

 

Sắc cho:

Hiệu linh Đôn tĩnh cao sơn chi thần,

Trước nay hộ quốc giúp dân vẫn thường linh ứng, được nhiều ban tặng nhiều sắc phong lưu giữ mà thờ phụng, đến nay truy niệm, gia tặng thêm cho thần là:

Hiệu Linh Đôn tĩnh Hùng tuấn chi thần.

Vẫn phê chuẩn cho thôn Hà Trâu xã Ngưu Phương và thôn Hà Nữu xã Thạch Phương, huyện Quảng Xương, phụng thờ như cũ, mong thần sau này sẽ bảo vệ cho dân đen của ta! Khâm tai.

 

Ngày 14 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846)

 

(6)

 

Sắc cho:

Cao sơn tôn thần, nguyên tặng Hiệu linh Đôn tĩnh Hùng tuấn chi thần,

Trước nay hộ quốc giúp dân vẫn thường linh ứng, được nhiều ban tặng nhiều sắc phong lưu giữ mà thờ phụng, đến nay truy niệm, gia tặng thêm cho thần là:

Hiệu linh Đôn tĩnh Hùng tuấn Trác vĩ Thượng đẳng thần.

Vẫn phê chuẩn cho thôn Hà Trâu xã Ngưu Phương và thôn Hà Nữu xã Thạch Phương, huyện Quảng Xương, phụng thờ như cũ, mong thần sau này sẽ bảo vệ cho dân đen của ta! Khâm tai.

 

 

(Hết)

 HÌNH ẢNH SẮC PHONG ĐÃ ĐƯỢC LƯU TẠI THƯ VIỆN TỈNH THANH HÓA



Ý kiến bạn đọc
Gửi ý kiến
   
  
 
 
   
 
NGƯỜI TÀI TRỢ
Đặt làm trang chủ

Lên đầu